Ở Những Xã Hội Nghèo, Đam Mê Là Một Môn Học Đắt Tiền
Có chuyện thú vị như vầy khi tôi đi du học Úc hồi những năm Đại học. Tôi nhớ những lớp tài chính, kế toán, kinh tế, business. Đông sinh viên châu Á vô kể. Trung Quốc, Việt Nam, Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc, Ấn Độ. Những khuôn mặt chăm chỉ, nghiêm túc, hơi căng. Ai cũng có một cái gì đó phải đạt được. Điểm cao. Internship. Graduate program. Visa. Định cư. Công việc ổn định. Lương tốt. Một con đường nghe có vẻ rất logic.
Nhưng ở những môn khác thì khác hẳn. Triết học. Ngôn ngữ học. Viết truyện. Lịch sử thiết kế. Xã hội học. Những lớp đó vắng sinh viên châu Á hơn rất nhiều, có khi nhìn quanh gần như toàn sinh viên Úc. Họ ngồi đó bàn về Plato, về đạo đức, về ngôn ngữ, về địa chính trị và quyền con người. Những thứ mà nếu mang về đặt lên bàn ăn của nhiều gia đình Việt hay Trung Quốc, chắc sẽ nhận được một câu rất quen: "Học cái đó ra làm gì?" hay "Con nít biết gì mà nói, tập trung học rồi ra kiếm tiền đi!"
Ngày đó tôi chưa thấy câu hỏi ấy đáng sợ. Bây giờ mới thấy nó nghèo. Không phải nghèo tiền. Mà nghèo về sự khao khát.
Vì trong câu "học cái đó ra làm gì", thật ra đã có sẵn một phán quyết rồi: học là để kiếm tiền, để có địa vị, để bố mẹ đỡ lo, để họ hàng không chê. Học là để có thứ đặt lên bàn cân, tính bằng lương tháng, chức danh, nhà cửa. Còn học để hiểu mình? Học để biết đối xử với người khác? Học để hiểu xã hội, để đừng trở thành một người thành công nhưng rỗng ruột? Những thứ đó nghe hay đấy, nhưng trong nhiều xã hội Á Đông, nó vẫn bị xem như món tráng miệng. Có thì tốt, không có cũng chẳng chết, quan trọng là phải có cơm đã.
Và đúng là phải có cơm thật. Đó mới là cái đau.
Văn minh không phải là nhiều tiền
Tôi không nghĩ văn minh chỉ là nhà cao, đường sạch, trung tâm thương mại sáng đèn, sân bay đẹp. Một xã hội trọc phú có thể rất giàu mà vẫn chưa văn minh. Có rất nhiều tiền nhưng vẫn coi thường người nghèo. Có xe sang đầy đường nhưng vẫn cười vào người làm nghề "không danh giá". Có trường quốc tế, bệnh viện tư, khu đô thị kín cổng cao tường, nhưng vẫn dạy trẻ con rằng giá trị của một đời người nằm ở việc sau này kiếm được bao nhiêu.
Văn minh, với tôi, không nằm ở chỗ xã hội đó có bao nhiêu người giàu. Nó nằm ở chỗ xã hội đó đối xử với người không giàu như thế nào. Có cười vào một đứa trẻ muốn học văn không? Có xem người làm nghệ thuật là ăn bám không? Có hỏi người làm công việc bình thường bằng cái giọng thương hại "ủa, sao không làm cái gì tốt hơn?" không?
Một xã hội văn minh cho con người quyền được sống mà không phải lúc nào cũng chứng minh mình hữu dụng. Nghe rất đơn giản nhưng để có được điều đó, một xã hội phải đi qua hàng trăm năm phát triển, tranh đấu, sai lầm, cải cách, xây dựng luật pháp, an sinh, giáo dục, văn hoá công dân. Không phải chỉ vài toà nhà cao, vài con đường đẹp là xong.
Trọc phú thì có thể giàu trong một đời. Văn minh thì phải học qua nhiều thế hệ.
Người châu Á không thực dụng hơn. Họ chỉ sợ nhiều hơn
Tôi không thích cách một số người nói rằng người Việt Nam hay người Á Đông nói chung quá thực dụng, chỉ biết tiền. Nói vậy dễ quá. Đúng là chúng ta thực dụng, nhưng câu hỏi sâu hơn là: vì sao?
Một đứa trẻ Úc học triết không nhất thiết là nó cao quý hơn một đứa trẻ Việt học tài chính. Có khi nó chỉ may mắn hơn. Sau lưng nó có một hệ thống ít nhiều đỡ nó, y tế, trợ cấp, luật lao động, phúc lợi, lương hưu, một xã hội không hoàn hảo nhưng vẫn cho con người một cái sàn hỗ trợ những nhu cầu cơ bản nhất của con người.
Còn sau lưng nhiều đứa trẻ Việt Nam và Trung Quốc là cha mẹ già, tiền học, bệnh viện, câu "con nhà người ta", và nỗi sợ nghèo không nói ra nhưng luôn ngồi cùng mâm cơm. Là một xã hội mà sai một bước có thể trả giá rất đau và rất lâu mới có thể vực dậy lại được.
Trong những xã hội thiếu an sinh, tình yêu của cha mẹ rất dễ biến thành một bảng Excel. Cột bên trái là học phí, cột bên phải là lương sau tốt nghiệp, ở giữa là tuổi già của cha mẹ, tiền bệnh viện, khoản vay mua nhà, và cái miệng của họ hàng.
Vậy nên khi cha mẹ hỏi "học cái đó ra làm gì", nhiều khi đó không chỉ là sĩ diện. Đó là nỗi sợ. Một thứ nỗi sợ truyền đời: ông bà sợ đói, cha mẹ sợ nghèo, con cái sợ thua, rồi cả nhà gọi cái sợ đó là "thực tế".
Tôi may mắn thay không sinh ra trong một gia đình như vậy. Ông bà, bố mẹ tôi là trí thức, có đầu óc tiến bộ, Tây hoá, nên những câu hỏi đó gần như chưa bao giờ đè lên tôi theo kiểu nặng nề. Nhưng tôi thấy nó ở rất nhiều người trong network. Và càng lớn, tôi càng thấy mình không thể cười họ được. Vì người ta không phải lúc nào cũng chọn thực dụng. Nhiều khi thực dụng là thứ còn lại sau khi xã hội đã lấy đi cảm giác an toàn của họ.
Có những ngành học chỉ dành cho người có chỗ dựa
Chúng ta hay nói: hãy theo đam mê. Nhưng câu này đôi khi hơi vô duyên với người không có quyền theo đam mê. Họ còn đang trả tiền nhà, trả tiền thuốc, gánh tiền học của em, cày bừa kiếm tiền dưỡng già của cha mẹ, trả cái nợ mà gia đình không gọi là nợ nhưng cả đời con cái vẫn phải trả.
Một đứa trẻ nhà khá giả nói "con muốn học nghệ thuật" nghe có thể lãng mạn. Một đứa trẻ nhà nghèo nói câu đó nghe như một tai nạn sắp xảy ra. Cùng một lựa chọn, nhưng không cùng một cái giá. Người giàu gọi đó là đi tìm bản thân. Người nghèo gọi đó là liều. Người có gia đình đỡ phía sau gọi đó là gap year, người không có ai đỡ gọi đó là thất nghiệp.
Vậy nên tôi không nghĩ triết học, lịch sử, xã hội học, văn chương, nghệ thuật là vô dụng. Ngược lại, chúng rất cần. Chúng dạy con người biết đặt câu hỏi, biết nghi ngờ quyền lực, biết hiểu nỗi đau người khác, biết nhìn đời không chỉ qua bảng lương. Nhưng trong một xã hội bất an, những môn ấy trở thành xa xỉ. Không phải vì chúng không quý. Mà vì chúng quá đắt đối với những đứa trẻ chưa từng được phép sai.
Đó là bi kịch. Một bi kịch âm thầm.
Không ai cấm một đứa trẻ Việt Nam học triết, không ai viết lệnh cấm chính thức nào cả. Xã hội chỉ cần hỏi nó mỗi ngày "rồi sau này sống bằng gì?", hỏi đủ lâu thì đứa trẻ sẽ tự cấm mình.
Work life balance không phải là lười
Ở Úc và nhiều nước châu Âu, người ta có một thái độ rất khác với công việc. Công việc quan trọng, nhưng không phải tất cả. Người ta đi làm rồi nghỉ, có cuối tuần, có kỳ nghỉ, có thời gian cho con cái, cho bạn bè, cho camping, cho một buổi chiều không làm gì cả.
Với nhiều người Á Đông, điều này nghe hơi khó chịu. Vì trong văn hoá của chúng ta, bận rộn thường được xem như đạo đức. Ai làm nhiều hơn thì có trách nhiệm hơn. Ai ngủ ít hơn thì đáng nể hơn. Một người nói "tôi cần nghỉ" dễ bị xem là yếu. Một người chọn sống vừa đủ dễ bị hỏi: "Không muốn phấn đấu à?"
Nhưng work life balance không phải là lười. Nó là một mức văn minh, và cũng là một thứ quyền lực mặc cả. Người lao động ở những nước đó nghỉ không chỉ vì họ "biết sống" hơn mình. Họ nghỉ vì luật pháp cho họ quyền nghỉ, vì công đoàn từng đấu tranh, vì xã hội đã từng trả giá để hiểu rằng con người không phải máy móc.
Còn ở Việt Nam hay Trung Quốc, nhiều người không nghỉ không phải vì họ yêu công việc. Họ không nghỉ vì sợ mất việc, sợ bị thay, sợ bị đánh giá là không nhiệt tình, sợ không đủ tiền, sợ ngày mai. Ở nhiều nơi, người ta không nghiện làm việc, người ta chỉ nghiện sống sót. Và sống sót lâu ngày thì nhìn giống chăm chỉ.
Câu đó nghe chua. Nhưng tôi nghĩ nó thật.
Học làm người là học đối xử với đời sống
Tôi không muốn nói quá cao siêu. Không phải cứ đọc triết là tử tế, không phải cứ học lịch sử là sâu sắc, không phải cứ học văn là có tâm hồn đẹp. Có rất nhiều người học cao mà vẫn hẹp hòi, đọc nhiều mà vẫn độc ác, nói hay mà sống tệ.
Nhưng một nền giáo dục chỉ dạy con người kiếm tiền thì chắc chắn là thiếu chiều sâu tâm hồn.
Học làm người, với tôi, đơn giản là học cách đối xử. Với bản thân, với người xung quanh, với xã hội, với thế giới. Một người không hiểu lịch sử rất dễ yêu nước bằng khẩu hiệu. Một người không hiểu xã hội rất dễ đổ lỗi cho người nghèo. Một người không hiểu triết học rất dễ tưởng mọi thứ mình tin là chân lý. Một người không từng học cách đặt câu hỏi sẽ rất ngoan, nhưng cái ngoan đó đôi khi chỉ là một dạng dễ bảo.
Và có lẽ đó là lý do những môn "không ra tiền" lại nguy hiểm theo một nghĩa nào đó. Chúng không làm ta giàu nhanh hơn, nhưng chúng làm ta khó bị biến thành công cụ hơn. Một xã hội chỉ cần người lao động ngoan thì sẽ không thích điều này. Một gia đình chỉ muốn con cái làm mình yên tâm cũng vậy.
Vì học làm người có thể khiến một đứa trẻ bắt đầu hỏi: tại sao con phải sống như thế? Tại sao thành công của con lại là tài sản tinh thần của cha mẹ? Tại sao nghỉ ngơi lại là tội lỗi? Tại sao một đời người phải được giải thích bằng chức danh?
Những câu hỏi đó không phá hoại xã hội. Chúng chỉ phá hoại những nỗi sợ đã giả làm đạo lý quá lâu.
Một xã hội văn minh cho con người quyền không tối ưu hoá đời mình
Ngày nay, mọi thứ đều bị biến thành một cuộc tối ưu. Học ngành gì để lương cao nhất, sống ở đâu để cơ hội tốt nhất, đọc sách gì để phát triển bản thân nhanh nhất. Ngay cả nghỉ ngơi cũng phải "productive rest". Nghỉ mà vẫn phải có lợi. Thiền để làm việc tốt hơn. Ngủ đủ để tăng năng suất.
Con người hiện đại mệt không chỉ vì làm nhiều. Mà vì ngay cả khi không làm, họ vẫn phải chứng minh sự không làm đó có ích.
Một xã hội văn minh hơn phải cho con người quyền không tối ưu hoá mọi thứ. Quyền học một môn vì tò mò thôi. Quyền đọc một cuốn sách không giúp tăng lương. Quyền làm một công việc bình thường mà vẫn được tôn trọng. Quyền không muốn trở thành sếp. Quyền sống một đời nhỏ thôi, miễn là tử tế.
Viết tới đây, tôi chợt nhớ tới ca khúc Được của ca sĩ AI Ken Quách, viral một dạo năm ngoái.
Sống một kiếp người, bình an là được
Nhưng quyền đó không tự nhiên mà có. Nó cần tiền, đúng, nhưng không chỉ cần tiền. Nó cần luật pháp, an sinh, văn hoá, lòng tôn trọng, và một xã hội bớt thô bạo trong cách đo người khác.
Việt Nam và Trung Quốc hôm nay có thể có rất nhiều người giàu, những thành phố sáng đèn, những trường quốc tế đắt đỏ. Nhưng nếu một đứa trẻ vẫn bị hỏi "học cái đó ra làm gì" với giọng khinh khỉnh, nếu một người kiếm ít tiền vẫn bị xem là kém, nếu một người chọn nghề mình thích vẫn bị xem là ích kỷ với gia đình, thì ta phải thành thật với nhau. Chúng ta có thể đang giàu lên. Nhưng chưa chắc đã văn minh hơn tương xứng.
Quan điểm của tôi cũng có một phần phiến diện
Tôi nói tất cả những điều này không phải vì tôi đứng ngoài nó. Tôi cũng có cái đầu Á Đông của mình. Tôi cũng từng nhìn một môn học và nghĩ: cái này dùng để làm gì. Cũng từng đánh giá một lựa chọn bằng khả năng kiếm tiền của nó. Cũng từng nghĩ thành công là phải có một cái gì đó nhìn thấy được, một chức danh, một mức lương, một con đường đủ sáng để giải thích với người khác.
Cái buồn cười là nhiều khi ta rời châu Á, nhưng châu Á không rời khỏi đầu ta. Ta đi học ở Úc, ngồi trong trường đại học phương Tây, đọc sách phương Tây, nói tiếng Anh, uống flat white, đi qua những bãi cỏ rất đẹp. Nhưng trong đầu vẫn có một giọng rất cũ hỏi nhỏ: "Rồi cái này kiếm tiền được không?"
Giọng đó không phải của riêng ai. Nó là giọng của lịch sử gia đình, của chiến tranh, của nghèo đói, của những năm tháng không có bảo hiểm tốt, không có lương hưu tử tế, không có mạng lưới đỡ con người khi họ ngã. Nó là giọng của những bữa cơm mà người lớn không nói thẳng nỗi sợ, nhưng trẻ con vẫn nuốt vào.
Càng già hơn, tôi càng ít muốn phán xét từng cá nhân. Tôi chỉ thấy buồn cho một xã hội nơi con người phải thực tế quá sớm. Một đứa trẻ đáng lẽ nên được hỏi: con tò mò điều gì? Nhưng nó lại được hỏi: ngành đó có ổn định không? Một đời người đáng lẽ nên rộng hơn công việc, nhưng rất nhiều người đã phải thu nhỏ nó lại cho vừa một cái CV.
Vậy thế nào là một xã hội văn minh
Có lẽ một xã hội văn minh không cần là nơi ai cũng học triết, học sử, học văn, học nghệ thuật. Không cần lãng mạn đến vậy. Chỉ cần là nơi một người học những thứ đó không bị xem là ngu.
Một xã hội văn minh không hứa rằng ai cũng sẽ giàu. Nó chỉ hứa rằng con người không phải phản bội mình quá sớm để được sống tử tế. Nó cho một đứa trẻ quyền học toán nếu nó yêu toán, học y nếu nó muốn chữa bệnh, học kinh tế nếu nó muốn hiểu thị trường. Nhưng nó cũng cho đứa trẻ ấy quyền học lịch sử vì muốn hiểu quá khứ, học triết vì muốn hiểu đời người, học viết truyện vì có những nỗi buồn không thể nói bằng bảng tính, học thiết kế vì cái đẹp cũng là một cách con người sống sót.
Và khi đứa trẻ nói vậy, xã hội không vội cười. Không vội hỏi "rồi làm ra tiền không?" Mà chỉ gật đầu. Chỉ nói "được rồi, con học đi." Và hãy để nó tự trải nghiệm. Để tự nó sống cuộc đời của nó.
Nhưng ở những nơi con người còn quá sợ nghèo, câu nói ấy nghe vẫn xa xỉ. Ở những nơi bệnh một trận có thể làm cả nhà lao đao, thất nghiệp vài tháng có thể thành thảm hoạ, tuổi già vẫn treo trên vai con cái, thì triết học nghe như một món ăn đắt tiền.
Không phải vì con người không cần nó. Mà vì họ còn đang bận trả tiền cho bữa cơm hôm nay.